30/06/2021 10:31
Xem với cỡ chữ

CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THEO THỊ TRƯỜNG HƯỚNG ĐI NÀO CHO VDB?

Hoàng Mai Hiền, Chi nhánh Ngân hàng phát triển Ninh Bình (Bài đạt giải Ba - Cuộc thi viết về 15 năm thành lập VDB - Bài viết đã được biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) là một trung gian tài chính có đối tượng phục vụ và mục tiêu hoạt động đặc thù, hướng đến lợi ích kinh tế - xã hội, đó là tài trợ vốn trung, dài hạn cho các dự án, chương trình kinh tế do Chính phủ hoạch định. 
Các dự án, chương trình này có đặc điểm quy mô đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, kết hợp cả hai mục tiêu hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, và thường không là đối tượng quan tâm của các tổ chức tài chính theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, VDB được Chính phủ hỗ trợ vốn, ban hành cơ chế tín dụng ưu đãi (như lãi suất thấp, thời gian vay vốn dài, miễn một số loại thuế…) để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển trên nguyên tắc phi lợi nhuận. Khi triển khai chính sách vào thực tiễn, nếu cơ chế chính sách đồng bộ cùng với hạ tầng đảm bảo cũng như nguồn vốn dồi dào cho nhu cầu hoạt động thì khả năng thành công của VDB là rất lớn. Ngược lại, mô hình VDB có nhiều khuyết tật sẽ trở thành một gánh nặng cho Nhà nước vì các dự án phát triển có thời gian thu hồi vốn lâu đồng nghĩa với đối mặt với nhiều rủi ro có thể phát sinh như: rủi ro do sản phẩm của dự án thuộc lĩnh vực đầu tư mới phải mất nhiều chi phí sản xuất và thiết lập thị trường, rủi ro do công nghệ lạc hậu, rủi ro do khó chuyển hướng kinh doanh linh hoạt với nhu cầu của xã hội do quy mô dự án lớn, không đủ nguyên liệu và nguồn nhân lực, biến động tỷ giá, lãi suất, giá nguyên liệu đầu vào, rủi ro do thiên tai dịch bệnh… Do đó, sự quan tâm và nguồn lực của Chính phủ là yếu tố then chốt đối với sự tồn tại và lớn mạnh của VDB.
Nghiên cứu mô hình VDB của một số quốc gia cho thấy, nhiều nước đã tổ chức rất thành công. Họ không những hoàn thành sứ mệnh phát triển kinh tế - xã hội quốc gia theo chiến lược của Chính phủ mà còn tham gia tài trợ vốn trung, dài hạn cho nhiều dự án lớn ở nước ngoài, tìm kiếm được nguồn thu nhập khổng lồ và trở thành những tổ chức tài chính lớn mạnh nhất thế giới. Nhờ vậy, VDB có thể trở thành một công cụ tài chính quan trọng, không thể thiếu trong quá trình thực hiện chiến lược ổn định nền kinh tế bản địa và chính sách đối ngoại của Chính phủ.
Ngân hàng phát triển Trung Quốc (The China Development Bank - CDB) được thành lập từ năm 1994 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Nhà nước Trung Quốc. Trải qua các đợt tái cấu trúc và thay đổi mô hình, tháng 4/2017, CDB chính thức xác nhận tên gọi của mình là Ngân hàng phát triển Trung Quốc, chuyển từ công ty cổ phần sang công ty TNHH. Các thành viên và phần vốn góp tương ứng bao gồm: Bộ Tài chính (36,54%), Công ty TNHH đầu tư trung ương Huijn (34,68%), Công ty TNHH đầu tư mặt bằng Phoenix (27,19%) và 1,59% cho các thành viên khác. CDB có 37 chi nhánh cấp 1 và 4 chi nhánh cấp 2, 1 chi nhánh tại HongKong và 10 văn phòng đại diện ở nước ngoài, có hơn 9.000 nhân viên và thành lập các công ty con gồm: CDB capital, CDB Securities, CDB Leasing, quỹ phát triển Trung - Phi và Quỹ phát triển CDB, có mạng lưới ngân hàng đại lý ở 707 ngân hàng tại 106 quốc gia trên thế giới. Sản phẩm dịch vụ vô cùng đa dạng, phong phú, trải rộng từ cho vay tài chính, đầu tư tài sản, đầu tư độc quyền, thanh toán quốc tế, thanh toán RMB qua biên giới, tư vấn, bảo lãnh đến các dịch vụ đặc biệt cho các khu vực hoặc vùng thuộc lãnh thổ nước ngoài mà Trung Quốc chú trọng hợp tác. Với phương châm con người là gốc rễ của một quốc gia, một đất nước sẽ phát triển vững chắc nếu gốc rễ vững chắc, CDB triển khai rất nhiều dự án phát triển kinh kế nội địa như xây nhà cho người có thu nhập thấp, giảm nghèo, phát triển nông thôn, giáo dục, sức khỏe, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Đồng thời, với chiến lược khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dự án ở nước ngoài, CDB có thể tham gia cả những cuộc họp hoạch định đầu tư hạ tầng trung dài hạn với một số Chính phủ nước ngoài, từ đó gắn kết các nhà đầu tư Trung Quốc với những cơ hội đầu tư lớn. Việc CDB kết hợp được sự hậu thuẫn của Chính phủ và các nguyên tắc kinh doanh dựa trên thị trường là một cách làm vô cùng hiệu quả, tác động lâu bền đến khả năng tìm được nguồn cung cấp nguyên liệu toàn cầu, và giúp các công ty Trung Quốc tăng trưởng vượt bậc bằng các ràng buộc nguồn vốn cho vay thông qua các hợp đồng thầu công trình. Đến nay, CDB đã vươn lên thành ngân hàng chính sách lớn nhất thế giới.
Ngân hàng phát triển Hàn Quốc (The Korean Development Bank - KDB) là một ngân hàng 100% vốn Nhà nước, được thành lập ngày 01/04/1954 cùng với sự ra đời của Luật Ngân hàng phát triển Hàn Quốc nhằm mục tiêu tái thiết nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh cũng như góp phần phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm. Từ năm 2000, KDB nhanh chóng đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và vận hành như một ngân hàng đầu tư thương mại, chuyên về tái cấu trúc và đã giúp nhiều công ty khôi phục sau khủng hoảng tài chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, KDB cũng đã trải qua nhiều cuộc đại phẫu. Chính phủ đã tư nhân hóa Ngân hàng phát triển Hàn Quốc vào năm 2012 dựa theo các kế hoạch hồi sinh nền kinh tế của Tổng thống. Đến hết năm 2014, KDB hợp nhất với Công ty tài chính Hàn Quốc, trở thành công ty mẹ của các đơn vị thành viên hoạt động trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đầu tư, quản lý tài sản. Các sản phẩm dịch vụ KDB cung cấp gồm: ngân hàng đầu tư; ngân hàng công ty đại chúng; ngân hàng toàn cầu; tư vấn và tái cấu trúc công ty đại chúng; quỹ hưu trí; quỹ tín thác; dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Các lĩnh vực đầu tư chủ đạo bao gồm: xây dựng cơ sở hạ tầng, đường cao tốc, sản xuất ô tô và linh kiện, năng lượng, đồ gia dụng, mỹ phẩm dược liệu... Hiện nay, là một ngân hàng lớn thứ 61 trên thế giới, KDB có 61 chi nhánh ở Hàn Quốc và 22 chi nhánh ở nước ngoài, lợi nhuận hàng năm đạt gần 700 triệu USD. KDB luôn đồng hành với chính sách của Chính phủ mọi thời kỳ, theo đuổi mục tiêu biến Hàn Quốc thành một trung tâm tài chính hàng đầu châu Á.
Ngân hàng phát triển Nhật Bản (Development Bank of Japan - DBJ) được thành lập theo Luật Ngân hàng phát triển Nhật Bản ngày 01/10/1999, kế thừa toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ của Ngân hàng phát triển Nhật Bản tiền thân và Công ty tài chính phát triển Hokkaido - Tohoku. Nhiệm vụ của DBJ là tài trợ cho các dự án theo chính sách của Nhà nước trong các lĩnh vực: phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường, công nghệ mới thông qua cho vay và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác với thời hạn dài, lãi suất thấp và cố định. Đến ngày 01/10/2008, DBJ được cổ phần hoá và có nhiệm vụ chính là tài trợ dài hạn thông qua hoạt động đầu tư và cho vay đối với các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng, hạ tầng giao thông, phát triển đô thị, các dự án thuộc lĩnh vực môi trường, y tế và phúc lợi xã hội. Cuối năm 2014, Chính phủ rà soát lại tổ chức của DBJ, tiếp tục tư nhân hóa diện rộng, nhưng vẫn duy trì phần vốn góp của Chính phủ để duy trì các biện pháp đối phó khủng hoảng. 
Điểm chung của các ngân hàng phát triển nêu trên là đều có nhiệm vụ phát triển nền kinh tế nội địa trên cơ sở định hướng của Chính phủ và được Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để hoạt động. Luật Ngân hàng phát triển được ban hành, đảm bảo môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ. Các ngân hàng này đã nhanh chóng hoàn thiện cơ sở hạ tầng hiện đại, đa dạng hóa các loại sản phẩm dịch vụ tiện ích nhất, thành lập nhiều công ty con hoạt động chuyên nghiệp theo từng lĩnh vực dịch vụ tài chính, có nhiều chi nhánh, văn phòng trong và ngoài nước, sớm hoàn thành mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội quốc gia, từ đó tập trung vào chiến lược bơm vốn cho các doanh nghiệp nội địa thực hiện các dự án quy mô lớn ở nước ngoài, đem lại nguồn doanh thu vô cùng lớn. Sự hỗ trợ mạnh tay của Chính phủ về vốn, về quan hệ ngoại giao, về môi trường pháp lý… đồng thời phát huy sự năng động, sáng tạo của những doanh nghiệp kiệt tài - là thành viên của Ngân hàng phát triển sau quá trình tư nhân hóa - đã tạo nên sự thành công của mô hình Ngân hàng phát triển ở các nước.
Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam: VDB hoạt động theo hình thức Công ty TNHH MTV, Nhà nước là chủ sở hữu, mục tiêu hoạt động là thực hiện chính sách tín dụng Nhà nước đối với các dự án thuộc đối tượng theo danh mục quy định của Chính phủ. Thành lập từ tháng 7/2006 trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển, VDB được kỳ vọng là một tổ chức tài chính hoàn chỉnh hơn tổ chức tiền thân, mở rộng đầu tư các dự án, góp phần thực hiện những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của Chính phủ. Trải qua 15 năm hoạt động, VDB đã đạt được một số thành tựu đáng kể. 
Hơn 220 nghìn tỷ đồng vốn Tín dụng đầu tư (TDĐT) đã được giải ngân cho các dự án sản xuất điện, thép, xi măng, phân bón, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống cấp nước, phát triển quỹ nhà ở tập trung, bảo vệ môi trường; các dự án phát triển nông thôn (phát triển giống thuỷ sản, giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng cơ sở chế biến gia súc, gia cầm tập trung); các dự án thuộc lĩnh vực xã hội hoá giáo dục, y tế...; các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Nhiều dự án lớn, quan trọng như: thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Lai Châu, Nhiệt điện Vĩnh Tân, Duyên Hải, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Vệ tinh Vinasat 1 và 2, Nhà máy điện gió Bạc Liêu, Nhà máy sữa TH... Trong điều kiện khó khăn về vốn NSNN, VDB đã huy động vốn từ thị trường để góp phần thực hiện Chương trình kiên cố hóa kênh mương, giao thông nông thôn, tôn nền vượt lũ theo đúng chủ trương của Chính phủ với lãi suất cho vay 0%. VDB luôn chú trọng dành vốn cho các dự án thuộc lĩnh vực an sinh xã hội như: đầu tư xây dựng các công trình cung cấp nước sạch, các nhà máy xử lý nước thải, rác thải, dự án nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê và người có thu nhập thấp; dự án thuộc Chương trình 18 bệnh viện công lập, xã hội hóa y tế giáo dục…
Khoảng 154 nghìn tỷ đồng vốn tín dụng xuất khẩu (TDXK) đã được giải ngân để các doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng xuất khẩu, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cần khuyến khích theo chủ trương của Chính phủ, tạo hàng ngàn tỷ việc làm cho lao động phổ thông ở khắp địa bàn nông thôn trên cả nước, dư nợ bình quân hàng năm VDB cho vay hỗ trợ xuất khẩu là 10 nghìn tỷ đồng.
VDB cũng thực hiện quản lý, cho vay lại vốn nước ngoài khá hiệu quả, VDB quản lý 460 dự án, giải ngân đạt hơn 165 nghìn tỷ đồng cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, năng lượng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, chế biến khai thác thủy sản, doanh nghiệp vừa và nhỏ, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn... Các dự án điển hình bao gồm: Dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Dự án đường cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Nhiệt điện Phú Mỹ, Nhà máy thủy điện Hàm Thuận Đa Mi, Dự án đường cao tốc Bến Lức - Long Thành, Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Phát triển sân bay Tân Sơn Nhất... 
Thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ về triển khai các giải pháp chống suy giảm kinh tế, VDB đã cho vay để trả lương, thanh toán bảo hiểm xã hội và trợ cấp thôi việc, cấp bù lãi suất cho các khoản vay TDĐT, TDXK trong gói kích cầu của Chính phủ, bảo lãnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn tại NHTM góp phần thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Hoạt động của VDB trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng CNH - HĐH mà còn đem lại những hiệu quả rất lớn về mặt xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhân dân trên khắp cả nước.
Tuy nhiên, cũng giống như các Ngân hàng phát triển khác, giai đoạn đầu đi vào hoạt động sẽ dần bộc lộ những hạn chế. Để có được mô hình hoàn thiện như ngày nay, KDB, CDB, DBJ và một số Ngân hàng phát triển khác đã phải trải qua hơn nửa thế kỷ vận hành, tái cấu trúc, rút kinh nghiệm. Chặng đường hoạt động 15 năm của VDB so với các nước là quá ngắn, nhưng ngay từ khi Nghị định số 75/2011/NĐ-CP được ban hành, thu hẹp đối tượng được hưởng ưu đãi, hoạt động của VDB bị chững lại. Sau này, một số nghị định mới được ban hành, nỗ lực cải thiện hoạt động của VDB theo xu hướng thu hẹp quy mô, thắt chặt tín dụng và vận hành theo thị trường nhưng không mấy khả quan, nguyên nhân chính là những khiếm khuyết gốc rễ vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Là ngân hàng thực hiện chính sách của Nhà nước nhưng VDB còn thiếu nhiều dịch vụ cơ bản của một tổ chức tín dụng như thanh toán quốc tế, cho vay vốn lưu động... Nguồn vốn hoạt động chủ yếu từ NSNN cấp, một phần từ phát hành trái phiếu, huy động các tổ chức khác nhưng rất hạn chế. Cơ chế quản trị rủi ro của VDB chưa được ban hành đồng bộ. Sản phẩm cung cấp gồm tín dụng đầu tư, cho vay lại vốn uỷ thác, cho vay lại vốn nước ngoài nhưng chỉ dành cho các đối tượng thuộc danh mục rất nhỏ hẹp của Chính phủ. Dịch vụ thanh toán duy nhất mà VDB được phép cung cấp cho khách hàng là thanh toán trong nước, trong khi hệ thống đang được tổ chức lại tinh gọn về khoảng 25-30 đầu mối trên cả nước. Thực tế trên làm xuất hiện sự dịch chuyển sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp vay vốn của VDB sang các NHTM. Vì sau khi đầu tư xong dự án, các doanh nghiệp vẫn rất cần các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác để nuôi dưỡng, vận hành và phát triển dự án. Do đó, các NHTM lại có cơ hội hưởng lợi từ cơ chế, chính sách hiện tại của VDB, nhanh chóng nâng cao vị thế thông qua phục vụ khách hàng với các sản phẩm dịch vụ vô cùng đa dạng và tiện ích. VDB vì thế mà không còn sức hút nổi bật như trước đây khi mà chính các NHTM cũng có thể làm được và thậm chí còn tốt hơn VDB cả về điều kiện tín dụng và danh mục sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phong phú. Điều đáng phải suy ngẫm là, đôi khi, các NHTM lại được Chính phủ lựa chọn thực hiện thay VDB trong việc tiếp nhận nguồn vốn nước ngoài và cho vay lại. Một số Ngân hàng phát triển các nước sang tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam như KDB, DBJ lại lựa chọn các NHTM để làm ngân hàng đại lý vì chúng có đầy đủ cơ sở hạ tầng cần thiết. 
Tại Chiến lược tài chính đến năm 2020, Chính phủ đã xác định việc nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính Nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới phương thức phát triển tín dụng Nhà nước theo nguyên tắc thương mại nhằm đảm bảo tính bền vững. Theo đó, tách bạch hoạt động của tổ chức thực thi chính sách tín dụng đầu tư với các TCTD thông thường nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc thương mại trong hoạt động tài trợ đầu tư phát triển. 
Để triển khai định hướng đó, trước hết, VDB phải đạt đến trình độ cung ứng đa dạng dịch vụ sản phẩm tiện ích, đồng thời phải có các điểm mạnh vượt trội như: khách hàng vay vốn sẽ được tiếp cận nhiều cơ hội làm ăn ở nước ngoài hơn, được tạo điều kiện về vốn quy mô lớn để thực hiện được các dự án tầm cỡ trong và ngoài nước, được giao thực hiện những dự án chiến lược quốc gia… Đồng thời, bản thân VDB cũng phải nâng tầm quản trị nội bộ, đảm bảo quản lý chặt chẽ, thận trọng, tiến tới phát triển bền vững. Có thể phác họa về mô hình hoạt động của VDB trong tương lai trên cơ sở những kiến nghị với cơ quan các cấp sau đây.
Với Chính phủ
Chính phủ cần nghiên cứu ban hành cơ chế, hành lang pháp lý đầy đủ để VDB được hoạt động như một ngân hàng bình thường, được cho vay vốn lưu động, được chủ động huy động vốn, được triển khai các dịch vụ ngân hàng... Nguồn vốn được huy động theo quy định tại Điều lệ bao gồm NSNN cấp đủ và huy động từ phát hành trái phiếu, từ quỹ bảo hiểm xã hội… Trường hợp chưa đủ vốn, Chính phủ xem xét phương án tư nhân hóa, bổ sung thêm thành viên góp vốn vừa giảm được sức ép cho NSNN vừa tăng cường được khâu quản trị hệ thống. Nguyên tắc hoạt động “không vì lợi nhuận” không nhất thiết phải duy trì vì VDB cần phải được triển khai hoạt động theo thị trường, chênh lệch thu chi dương và mức dương lũy kế ngày càng lớn thì VDB mới dần độc lập với NSNN được. Danh mục khách hàng thuộc đối tượng vay vốn cần được mở rộng theo chiến lược quốc gia từng thời kỳ, vì Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, vẫn còn nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương rất cần được Chính phủ tiếp sức thông qua chính sách đầu tư phát triển. Luật Ngân hàng phát triển nên được xem xét trình Quốc hội ban hành, vì thượng tôn pháp luật sẽ làm tăng tính tuân thủ, kỷ luật, kỷ cương của khách hàng khi được Chính phủ tin tưởng trao cho đồng vốn Nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội. Các bộ, ngành, địa phương sẽ hỗ trợ tích cực hơn cho VDB trong thực hiện chính sách, nhất là khâu quản lý, giám sát đảm bảo nguyên tắc an toàn vốn. Có Luật Ngân hàng phát triển chắc chắn sẽ giảm được tình trạng dàn trải, tổ chức tín dụng nào cũng có thể thực hiện thay chức năng của VDB như hiện nay. Lịch sử thời gian qua đã cho thấy hệ lụy mà VDB phải đối mặt nhiều vấn đề về quản lý khách hàng và thu hồi, xử lý nợ khi đồng loạt các khách hàng được vay vốn tại VDB bỏ qua trách nhiệm trả nợ cũng như nhiều nghĩa vụ khác với VDB vì phụ thuộc vốn lưu động và các dịch vụ của các tổ chức tín dụng khác. Chính phủ cần tập trung thiết kế và triển khai mô hình VDB hiện đại: hoạt động đầy đủ của một NHTM nhưng định hướng thực hiện chính sách của Nhà nước; một VDB đồng bộ hoàn thiện từ huy động vốn, tài trợ vốn, xử lý nợ, hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, Chính phủ phân định rõ phạm vi (đối tượng ngành nghề, khu vực, lĩnh vực…) được NSNN hỗ trợ lãi suất, nguồn vốn… còn lại giao VDB huy động vốn để tài trợ theo hình thức kinh doanh có lợi nhuận và tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc thị trường và xác định rõ những ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước. Đối với những đối tượng thuộc chương trình, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ cần được hỗ trợ mà Chính phủ giao VDB thực hiện thì Chính phủ phải xem xét hoàn chỉnh từ nguồn vốn, điều kiện giải ngân, xử lý nợ, xử lý rủi ro cho VDB. Tiến tới, VDB hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài, tham gia thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài (theo nguyên tắc: thuộc các đối tượng được Nhà nước Việt Nam hỗ trợ, được Chính phủ các nước nhận vốn bảo lãnh vốn vay…). Khi VDB được nâng cao vị thế vì có Luật điều chỉnh, quản trị nội bộ được tăng cường, với đội ngũ cán bộ tận tâm trách nhiệm, chắc chắn mọi chính sách tín dụng Nhà nước sẽ được triển khai thành công, thắng lợi, góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước vĩ đại mà Đảng và Nhà nước ta đã kiến tạo và không ngừng thúc đẩy.
Với Bộ Tài chính
Bộ Tài chính là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý VDB. Trên cơ sở theo dõi, quản lý quá trình vận hành của VDB, Bộ báo cáo và tham mưu cho Chính phủ những giải pháp kịp thời. Tồn tại chủ yếu hiện nay trong vận hành chính sách tín dụng Nhà nước tại VDB là thiếu vốn, chưa có các điều kiện tín dụng theo Nghị định mới ban hành, thiếu quy chế xử lý nợ, xử lý rủi ro, thiếu nhiều nghiệp vụ ngân hàng đủ để phục vụ cho khách hàng vay vốn. Về lý thuyết, nguồn vốn hoạt động từ NSNN cấp và từ huy động trái phiếu, từ các tổ chức như bảo hiểm xã hội, từ nhận ủy thác… Thực tế, VDB nhiều năm nay hoạt động trong tình trạng mất cân đối nguồn do NSNN cấp chưa đủ vốn điều lệ, chênh lệch lãi suất chưa kịp cấp bù, nguồn từ các tổ chức được chỉ định rất hạn chế do sự cạnh tranh gay gắt từ các tổ chức tài chính khác cũng có nhu cầu huy động vốn. Do đó, rất cần có sự tập trung điều tiết của Bộ Tài chính cho VDB nguồn vốn ngoài NSNN như toàn bộ nguồn vốn cho vay lại, vốn nhận ủy thác, ưu tiên cho VDB độc quyền huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội… Ngoài ra, có thể nghiên cứu tham mưu Chính phủ phương án tìm kiếm thêm một số thành viên góp vốn đủ tiềm lực trong thực hiện chính sách đầu tư phát triển trên cơ sở theo xu thế thị trường. Trước mắt, Bộ cần phối hợp NHNN định hình về mô hình hoạt động đầy đủ của một tổ chức tín dụng để ban hành quy chế hoạt động của VDB một cách hoàn thiện. Tham mưu Chính phủ về biện pháp tạo quyền ưu tiên thu nợ gốc lãi từ nguồn cho vay vốn tín dụng Nhà nước tại VDB ngang bằng như thu thuế cho NSNN, miễn giảm các loại phí dịch vụ phục vụ quản lý dự án như phí khai thác dịch vụ từ Trung tâm thông tin tín dụng, phí xử lý tài sản bảo đảm... Ngoài ra, có thể tham mưu các cấp về chiến lược khuyến khích doanh nghiệp trong nước xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa hoặc thực hiện các dự án quy mô vừa ở nước ngoài thông qua công cụ tài chính là VDB. Danh mục đối tượng vay vốn tại VDB, vì thế, cần được tham mưu mở rộng cho phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng năm. Bộ Tài chính thường xuyên theo dõi, quản lý, đánh giá thực tế hiệu quả hoạt động của VDB, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc để kịp thời báo cáo Chính phủ tháo gỡ hoặc chỉ đạo thực hiện. Tiến tới tham mưu ban hành Luật Ngân hàng phát triển và khi đủ tầm, VDB sẽ dần trở thành một cơ quan thuộc sự quản lý trực tiếp của Chính phủ, giảm bớt được khâu trung gian báo cáo và quản lý, do đó sẽ hiệu quả hơn.
Với lãnh đạo, cán bộ VDB
Mỗi cán bộ VDB ở vị trí công tác của mình cần phát huy tinh thần trách nhiệm, trung thực và tận tụy cống hiến năng lực cá nhân. Thường xuyên trau đồi kiến thức, nâng cao trình độ. Tuyệt đối loại bỏ những biểu hiện suy thoái đạo đức trong thực thi nhiệm vụ. Năm 2021 là năm cuối của giai đoạn thực hiện tái cơ cấu Ngành, đối với nhóm dự án có nợ xấu hiện nay, cần được tiếp tục nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp sau khi Chính phủ đã ban hành Quy chế xử lý rủi ro. Nhưng vì sự tồn tại lâu dài, VDB phải triển khai được các hoạt động mới trong điều kiện cơ sở hạ tầng được cải tiến; xây dựng quy định quản trị nội bộ, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả; chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức các hoạt động VDB hiện đại hướng đến thị trường hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch, đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; các quy định quản trị nội bộ phải phù hợp, thích ứng với từng loại hình nghiệp vụ, từng loại hình hỗ trợ… và phân định rõ chế độ, trách nhiệm thực thi chính sách. Trước mắt, VDB cần thực hiện được đầy đủ chức năng nhiệm vụ quy định tại Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/09/2015. Thực hiện phân cấp mạnh cho các chi nhánh, nâng cao trách nhiệm cá nhân, tăng cường năng lực quản lý của Trụ sở chính. Giai đoạn sau này, khi VDB đã tạm ổn định, trên cơ sở được tư vấn tái cấu trúc và học tập mô hình của các Ngân hàng phát triển bạn, có thể tham mưu báo cáo Chính phủ bổ sung thêm chức năng nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho những doanh nghiệp đủ điều kiện để có thể thực hiện đầu tư dự án ở nước ngoài, đưa VDB nâng tầm lên một vị thế mới.
Khái quát lại, VDB có thành công hay không, ngoài các yếu tố từ nội lực ngân hàng, còn phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm và nguồn lực của Chính phủ. Bản thân VDB luôn phải hết sức nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao ở mọi thời điểm. Những bất cập, vướng mắc hiện tại sẽ phải được lãnh đạo các cấp, các ngành xem xét tháo gỡ qua các đợt sắp xếp, tổ chức lại mô hình VDB như lịch sử các nước đã trải qua. Sau giai đoạn tái cấu trúc Ngành, hy vọng VDB sẽ dần được cải thiện, tiến tới tương lai tốt đẹp, thực hiện được chính sách tín dụng Nhà nước chất lượng, hiệu quả nhiều hơn nữa, tiến tới trở thành một công cụ tài chính tiện ích, không thể thiếu trong những quyết sách của Chính phủ Việt Nam trong tương lai./.
Tài liệu tham khảo
1. http://www.cdb.com.cn/;
2. www.kdb.co.kr;
3. www.dbj.jp/’;
4. www.vdb.org.vn;
5. Bài viết Mở rộng hoạt động cho vay vốn tín dụng đầu tư tại VDB  TS. Nguyễn Cảnh Hiệp Ban Cân đối Kế hoạch, VDB (bài đăng số Tháng 3/2020 Tạp chí HTPT);
6. Bài viết Ngân hàng Phát triển Việt Nam mười năm chặng đường đầu tiên của Nguyên Chủ tịch HĐQL Nguyễn Đức Kháng trên Tạp chí HTPT số 115 (Tháng 4+5/2016);
7. Giáo trình VDB - Đại học kinh tế quốc dân;
8. Quyết định 108/QĐ-TTg ngày 19/05/2006 về thành lập VDB;
9. Quyết 1515/QĐ-TTg ngày 03/09/2015 về Ban hành điều lệ và tổ chức hoạt động của VDB.
Tìm theo ngày :

Khách online:7997
Lượt truy cập: 10575110